20 стихов вьетнамских поэтов в переводе на русский язык

Рассказы, книги, статьи, стихи.

Модератор: tykva

Ответить
ozes
Администратор
Сообщения: 19294
Зарегистрирован: 15 мар 2017 14:33
Контактная информация:

20 стихов вьетнамских поэтов в переводе на русский язык

Сообщение ozes » 15 фев 2019 11:13

20 стихотворений вьетнамских поэтов в переводе на русский язык - публикация Хиен Нгуен Тхи Ким к Дню вьетнамской поэзии 2019, в котором в этом году принимают участие и поэты из России:

20 bài thơ Việt Nam dịch sang tiếng Nga

Chào mừng Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ IV, Liên hoan thơ quốc tế lần thứ III và Ngày thơ Việt Nam lần thứ XVII. Các hoạt động trên đây sẽ diễn ra từ ngày 15-2 đến ngày 21-2-2019 (tức từ ngày 11 đến ngày 17 tháng Giêng năm Kỷ Hợi) với nhiều hoạt động tổ chức đồng thời tại 3 tỉnh, thành phố là: Hà Nội, Quảng Ninh và Bắc Giang. Gần 200 đại biểu quốc tế là những nhà thơ, nhà văn, nhà xuất bản, nhà nghiên cứu tiêu biểu cho nền văn học đương đại của 53 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới sẽ tham gia các hoạt động trên đây.

Trong số các đại biểu có các nhà thơ nhà văn
Chúng tôi xin đăng một số bài thơ Việt Nam dịch sang tiếng Nga:

Năm anh em trên một chiếc xe tăng
Hữu Thỉnh

Năm anh em trên một chiếc xe tăng,
Như năm bông hoa nở cùng một cội,
Như năm ngón tay trên một bàn tay,
Ðã xung trận cả năm người như một.

Ha ha! Vào lính xe tăng anh trước anh sau,
Cái nết ở ăn mỗi người một tính,
Nhưng khi hát ta hòa cùng một nhịp,
Một người đau ta tất cả quên ăn.

Năm anh em mỗi đứa một quê,
Ðã lên xe ấy là cùng một hướng,
Nổ máy lên là một dạ xung phong,
Trước quân thù lòng chỉ biết có tấn công.

Ha ha! Năm anh em ta mang năm cái tên,
Ấy khi lên xe không còn tên riêng nữa,
Trên tháp pháo một ngôi sao màu lửa,
Năm quả tim chung nhịp đập ơ dồn.

Một con đường đất đỏ như son,
Một màu rừng xanh bạt ngàn hy vọng,
Một ý chí bay ra đầu ngọn súng,
Một niềm tin chiến thắng trong trận này.

ПЯТЬ БРАТЬЕВ
Хыу Тхинь

Подняв над башней красный флаг,
пять братьев сели в танк.
Пять братьев – как один кулак,
взнесённый для атак.

Смешно! В солдаты каждый брат
шёл собственным путём.
Но здесь они – один отряд,
горят одним огнём!

Родились в разных деревнях,
от разных матерей,
а нынче – мчат туда, где враг,
чтоб бить его скорей.

Смешно! Даны им имена
для каждого – своё,
но в танке – всем судьба одна,
все чтут закон её.

Мечта о счастье, как заряд,
летит через луга…
За братом – брат, за братом – брат
спешат громить врага.
Перевёл с вьетнамского
Николай ПЕРЕЯСЛОВ.

Hỏi
Hữu Thỉnh
Tôi hỏi đất: Đất sống với đất như thế nào?
- Chúng tôi tôn cao nhau

Tôi hỏi nước: Nước sống với nước như thế nào?
- Chúng tôi làm đầy nhau

Tôi hỏi cỏ: Cỏ sống với cỏ như thế nào?
- Chúng tôi đan vào nhau
Làm nên những chân trời

Tôi hỏi người:
- Người sống với người như thế nào?

Tôi hỏi người:
- Người sống với người như thế nào?

Tôi hỏi người:
- Người sống với người như thế nào?

1992


ПОПЫТКА ДИАЛОГА
Хыу Тхинь

«Не тесно ли скалам на свете?» –
я к ним обращался с вопросом
И слышал в ответ:
«Мы друг друга любовью до неба возносим!»

Я реки спросил: «Вам не больно зажатыми
быть в грубом камне?»
И слышал в ответ:
«Мы с любовью сольёмся в одном океане».

Я травы, растущие густо, спросил:
«Неужель вам не грустно?»
И травы сказали сердечно:
«Срослись мы корнями навечно».

Спросил я людей на планете:
«Как жить без нужды нам на свете?..»
Спросил я людей на планете:
«Как жить без вражды нам на свете?..»
Спросил я людей на планете:
«Как жить без беды нам на свете?..»

На то мне на всём белом свете –
никто до сих пор не ответил…
Перевёл с вьетнамского
Николай ПЕРЕЯСЛОВ.

Thơ viết ở biển
Anh xa em
Trăng cũng lẻ
Mặt trời cũng lẻ
Biển vẫn cậy mình dài rộng thế
Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn

Gió không phải là roi mà đá núi phải mòn
Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím
Sóng chẳng đi đến đâu nếu không đưa em đến
Vì sóng đã làm anh
Nghiêng ngả
Vì em...

СТИХИ, НАПИСАННЫЕ НА МОРЕ
Хыу Тхинь

Как пусто без тебя! Хожу в слезах.
Луна на небе плачет одиноко.
Без пары солнце бродит в небесах…
Лежало море синее широко,
пока кораблик в белых парусах
куда-то мчался по волнам далёко,
теперь и в море стало одиноко…

Что значит – ветер? Воздуха струя!
Но не она ли точит скал утёсы?
Пусть ты не тень, любимая моя,
но мне закрыли солнце твои косы.

Не добежать до берега волне,
если на ней ты не плывёшь ко мне.
Как – без тебя – мне жить, тебя любя?
Теряю память, годы погребя…
Перевёл с вьетнамского
Николай ПЕРЕЯСЛОВ.

Xa vắng
Hữu Thỉnh

Xa xắng quá bồn chồn đi hỏi cát
Đường đông người, đâu nhỉ dấu chân em

Xa vắng quá một mình đi hỏi bến
Người sang đò có dặn sóng gì thêm

Xa vắng quá tần ngần đi hỏi chợ
Người mua gương dạo ấy có hay về?

Người mua gương đã một lần trở lại
Soi tưng bừng, rồi lặng lẽ quay đi
2-1999
ОДИНОКО И ПУСТЫННО
Хыу Тхинь

Одиноко и пустынно. Дни текут песком
горячим.
Сколько ног дорогу топчут –
где средь них твои следы?
Одиноко и пустынно. Стал глухим я
и незрячим.
«Нет ли вести от любимой?» –
вопрошаю у воды.

Я к торговцам обращаюсь,
пробудить пытаясь жалость:
«Возвращалась ли красотка, что искала
зеркала?»
«Да, однажды возвращалась.
Будто с миром попрощалась.
Перед зеркалом застыла –
и в него, как в дверь, ушла…»

Перевёл с вьетнамского
Николай ПЕРЕЯСЛОВ.

Phan Thiết có anh tôi
Hữu Thỉnh

Anh không giữ cho mình dù chỉ là ngọn cỏ
Đồi thì rộng anh không vuông đất nhỏ
Đất và trời Phan Thiết có anh tôi

Chính ở đây anh thấy biển lần đầu
Qua cửa hầm
Sau những ngày vượt dốc
Biển thì rộng căn hầm quá chật
Khẽ trở mình cát đổ trắng hai vai

Trong căn hầm mùi thuốc súng mồ hôi
Tim anh đập không sao ghìm lại được
Gió nồng nàn hơi nước
Biển như một con tàu sắp sửa kéo còi đi
Những ngôi sao tìm cách sáng về khuya
Những người lính mở đường đi lấy nước
Họ lách qua những cánh đồi tháng chạp
Trong đoàn người dò dẫm có anh tôi
Biển ùa ra xoắn lấy mọi người
Vì yêu biển mà họ thành sơ hở
Anh tôi mất sau loạt bom tọa độ
Mất chỉ còn cách nước một vài gang

Anh ở đây mà em mãi đi tìm
Em hy vọng để lấy đà vượt dốc
Tân Cảnh
Sa Thầy
Đắk Pét
Đắk Tô
Em đã qua những cơn sốt anh qua
Em đã gặp trận mưa rừng anh gặp
Vẫn không ngờ có một trưa Phan Thiết
Em một mình đứng khóc ở sau xe

Cánh rừng còn kia trận mạc còn kia
Vài bước nữa thì tới đường số Một
Vài bước nữa
Thế mà
Không thể khác
Biển màu gì thăm thẳm lúc anh đi

Em chưa hay cánh đồi ấy tên gì
Nhưng em biết ngày ngày anh vẫn đứng
Anh chưa biết đã tan cơn báo động
Chưa biết tin nhà không nhận ra em
Không nằm trong nghĩa trang
Anh ở với đồi anh xanh vào cỏ

Cỏ ở đây thành nhang khói của nhà mình
Đồi ở đây cũng là con của mẹ

Lo liệu trong nhà dồn xuống vai em
Tiếng còi xe Phan Thiết bước vào đêm
Đèn thành phố soi người đi câu cá
Anh không ngủ người đi câu không ngủ
Biển đêm đêm trò chuyện với hai người
Cứ thế từng ngày Phan Thiết có anh tôi.
1981

ПАМЯТИ БРАТА

Ну вот я и в Фан Тьете… Здравствуй, брат!
Ты для себя не взял здесь ни былинки.
Вот холм стоит, как великан былинный,
густой травой, как пламенем, объят.
Смотрю вокруг – всё это ты, мой брат.
Ты был – солдат. И, совершив бросок
через леса и горы, вышел вскоре
на этот берег, где увидел море
через прицела суженный глазок.
В окопе тесно, сыплется песок…

Вот над прибоем чайка прокричала…
Ты видел море. Сердце так стучало
и вдаль рвалось, как шхуна от причала,
в высоких мачтах слыша ветра гул…
И этот ветер – нынче снова дул.

Тьму небосвода звёздный жар прожёг.
Солдаты шли, чтоб мир спасти от горя,
через леса и горы… Вот и море!
Но сердце свёл смертельной боли шок,
когда до цели был всего вершок.

Ты здесь, мой брат! А я тебя искал,
себе надежду в помощь взяв, как посох,
в горах Тань Каня, на крутых откосах
Дак То, Ша Тайя и Дат Пега скал…
Нас общий дождь здесь яро полоскал.

Я повторил весь твой последний путь,
был там, где ты изведал лихорадку.
Я каждый шаг твой помню по порядку –
по всем фронтам! Осталось чуть свернуть,
и ты – у моря… Но судьбы тетрадку
нам не дано назад перелистнуть,
одно вписав, другое – зачеркнуть.

Какого цвета был морской прибой,
когда ты принял свой последний бой?
О том сейчас молчат морские воды.
Но ты стоишь, стоишь все эти годы
на том холме, закрыв страну собой.
Ты стал травой, стал высью голубой.
Ты навсегда останешься со мной…

Ах, как похожи стебли здешних трав
на благовоний палочки! Бывало,
на праздник, дом украсив и прибрав,
на алтаре их мама возжигала…

Холмы Фан Тьета горбятся устало –
знать, и на них легло беды немало…

…Ночь приглушает на шоссе гудки.
Мерцает город жёлтыми огнями.
Не спишь лишь ты, мой брат, да рыбаки,
и море плещет тёплыми волнами,
как будто длит беседу между вами…

Дрожат вдали Фан Тьета огоньки.
Ты вечно с нами, брат. Ты вечно с нами.

Перевёл с вьетнамского
Николай ПЕРЕЯСЛОВ.

Bài hát về cố hương

Nguyễn Quang Thiều

Kính dâng làng Chùa của tôi

Tôi hát bài hát về cố hương tôi
Khi tất cả đã ngủ say
Dưới những vì sao ướt át
Và những ngọn gió hoang mê dại tìm về

Đâu đây có tiếng nói mê đàn ông bên mái tóc đàn bà
Đâu đây thơm mùi sữa bà mẹ khe khẽ tràn vào đêm
Đâu đây những bầu vú con gái tuổi mười lăm như những mầm cây đang nhoi lên khỏi đất
Và đâu đây tiếng ho người già khúc khắc
Như những trái cây chín mê ngủ tuột khỏi cành rơi xuống
Góc vườn khuya cỏ thức trắng một mình

Tôi hát bài hát về cố hương tôi
Trong ánh sáng đèn dầu
Ngọn đèn đó ông bà tôi để lại
Đẹp và buồn hơn tất cả những ngọn đèn
Thuở tôi vừa sinh ra
Mẹ đã đặt ngọn đèn trước mặt tôi
Để tôi nhìn mặt đèn mà biết buồn, biết yêu và biết khóc

Tôi hát bài hát về cố hương tôi
Bằng khúc ruột tôi đã chôn ở đó
Nó không tiêu tan
Nó thành con giun đất
Bò âm thầm dưới vại nước, bờ ao
Bò quằn quại qua khu mồ dòng họ
Bò qua bãi tha ma người làng chết đói
Đất đùn lên máu chảy dòng dòng

Tôi hát, tôi hát bài ca về cố hương tôi
Trong những chiếc tiểu sành đang xếp bên lò gốm
Một mai đây tôi sẽ nằm trong đó
Kiếp này tôi là người
Kiếp sau phải là vật
Tôi xin ở kiếp sau là một con chó nhỏ
Để canh giữ nỗi buồn – báu vật cố hương tôi...

1991

ПЕСНЬ О ДЕРЕВНЕ ЧУА
Оригинал: Bài hát về cố hương, Nguyễn Quang Thiều (Нгуен Куанг Тхиеу)

От мокрых звёзд алмазно блещет мир,
в котором тихо спит моя деревня.
И влажный свет, как дождь из горних дыр,
течёт на поле, крыши и деревья.

Вот в бледном свете спят, в руке – рука,
жена и муж, во сне вздыхая тонко.
Вот сладковатый запах молока
окутал мать и спящего ребёнка.

Вот спит девчонка, не познав пока
вкус поцелуя первого при звёздах.
Вот слышен хриплый кашель старика,
как будто выстрел, расколовший воздух.

Вот спелый плод скользнул в листве, как птица,
упав на землю, что без сна томится…

Я в свете лампы молча песнь пою
моей родной, стареющей деревне
и вспоминаю бабушку свою,
что мне светильник подарила древний.

Как греет душу и ласкает взгляд
его огонь, что гонит тьму упрямо!
Его впервые много лет назад
передо мной зажгла однажды мама…

Я о деревне песнь свою пою,
с которой связан вечной пуповиной.
Здесь смерть и горе пронеслись лавиной,
седой до срока сделав мать мою.

Я славлю в песне свой родимый край,
и против воли думаю украдкой,
что и при жизни он мне был, как рай,
и после смерти будет лечь тут сладко…

Я – человек. Я жив ещё. Однако
наступит время облик свой менять.
Пусть в новой жизни стану я – собакой,
чтобы мою деревню охранять.

Тогда, любовью давней окрыляем,
я всех врагов поразгоняю лаем!
1991

Перевёл с вьетнамского Николай Переяслов

Những ngôi sao
Nguyễn Quang Thiều

Ta không thể nuôi nhau bằng những ánh sao trời
Anh nói vậy xin em đừng khóc
Những ngọn tóc em đang đổ xuống ngực anh
Như những rễ cây bò buồn trong sỏi đá

Đêm nay là đêm thứ bao nhiêu rồi ta chẳng còn biết nữa
Ta ôm nhau ngồi thở trước sao trời
Những ngôi sao tuyệt vời nhưng anh không tới được
Chẳng bao giờ anh hái được cho em

Anh đã gọi em về, không nỡ để em đi
Em non bấy đau trong từng sợ hãi
Em tựa vào anh, anh tựa vào cay đắng
Trái đất tựa vào những tinh tú thẳm xa

Đêm hoang sơ chỉ có đôi ta
Không cơm áo cửa nhà ngồi ôm nhau run rẩy
Ta sẽ bắt đầu điều gì khi bình minh thức dậy
Đi về phía biển khơi hay trở lại rừng

Trái đất đang ở đâu đêm nay một triệu năm về trước
Hay của triệu năm sau gió bụi, mây vàng
Và ta nữa khổ đau cùng hạnh phúc
Ta là hai kẻ cuối cùng hay hai kẻ đầu tiên

Đêm nay là đêm thứ bao nhiêu rồi ta chẳng còn biết nữa
Ta như hai đứa trẻ non mềm vừa mới sinh ra
Với hơi thở của người vừa ốm dậy
Ta ôm nhau ngước mắt gọi sao trời.

1991

ЗВЁЗДЫ

Одним сияньем звёзд насытишься едва ли, –
Шептал я, чтоб отвлечь тебя от слёз…
И волосы мои на грудь твою сбегали,
Цепляясь словно корни за откос.

О, сколько мы ночей вдыхали то сиянье,
Объятья не решаясь разомкнуть?
И я не мог сорвать звезду на расстоянье,
Хотя был изобилен Млечный путь…

Я утешал тебя, чтоб ужас расступился,
Терзавший долго – до потери сил.
Ты доверялась мне, я горечью крепился,
Земля искала помощи светил.

Дрожали мы одни средь марева пустого,
Не зная крова, платья и еды…
С чего же день начнём, когда забрезжат снова
Резные джунгли, синь морской воды?

То миллионы лет земля при нас рождалась,
Иль жёлтый прах лишь будет, а не есть?..
Готово нам всегда страдание и радость,
Последние ли, первые мы здесь.

Учились мы дышать, как два новорождённых,
Друг друга не умея отпустить.
О, сколько же ночей отчаянно бездонных
Сиянье звёзд мы жаждали испить?!

Перевела с вьетнамского Анна Ретеюм.
Uống ruợu với người bạn Nga
Выпивая с русским другом

Trần Đăng Khoa
ЧАН ДАНГ ХОА

Nắng hay rượu rót từ trời
Chảy tràn trên tóc
Bạn ơi, ngồi dưới giàn nho
Nào ta nâng cốc!

Солнце это иль хмель
Падают ливнем,
Сядем, мой друг под лозой
И рюмку поднимем!

Anh người Nga, tôi người Việt
Nhìn nhau là hiểu nhau rồi
Bởi thế mà đất bạn
Tôi cứ tưởng quê

Вьетнамец и русский,
Узнаем в друг в друге родного,
То-то на вашей земле
Ощущаю как дома.

Bởi thế có ta với rượu
Bao vui buồn cùng rót sang nhau
Mới hay trái đất
Cũng chẳng rộng dài lắm đâu!

То-то сидим во хмелю,
Радость и грусть подливая друг другу,
Тесен, действительно, мир,
И шарик-то круглый!

Nào nâng cốc! Xin mừng bạn
Vụ nho này lại được mùa
Bão tuyết chỉ còn gầm thét
Trong những bài ca xa xưa

Рюмку, мой друг, за тебя!
Был удачен сезон виноделов,
Злая пурга пусть ревет
Лишь в старинных напевах!

Và em gái hái nho
Mắt em như cốc rượu đầy
Chỉ nhìn vào màu mắt biếc
Là tôi đã ngả nghiêng say!

О, сбиравшая сей виноград,
Чьи глаза - вино без изъяна,
Гляну в них только на миг
И сразу же пьяный!
Nào nâng cốc mừng quê tôi
Trời yên, biển cũng yên rồi
Đã hết âm u, băng giá
Nhìn đâu cũng ấm mặt người

Выпей же, друг, за здравье отчизны моей,
За мирные небо и море,
Мрак и холод ушли,
У народа в очах только зори!

Bao giờ bạn sang quê Việt
Ta sẽ uống rượu trên biển lúa chín vàng
Chỉ cần lưng chén “Cuốc lủi” (*)
Là bạn say khướt cung thang! (**)

Как приедешь ко мне во Вьетнам
Здесь у моря златого из риса
Убедит самогона стакан
Что ты счастьем до неба упился!

Tìm bạn phải tìm trong hoạn nạn
Còn khi vui vẻ thiếu chi
Bởi thế, Hắc Hải xanh rì
Dào dạt chảy vào cốc rượu

Добрый друг познается в беде,
А друзей ненадежных навалом,
Море черное зелья течет
Неотступно - бокал за бокалом.

Uống đi bạn! Nào rót tôi cốc nữa
Ghế cao thôi chẳng cần đâu
Tốt nhất ta ngồi dưới đất
Nếu có ngã thì không đau...

Выпей скорее мой друг,
И налей мне рюмаху,
Стулья долой – посижу на земле
Чтоб не падать с размаху !

Ứớc gì cả nhân loại này
Đều ngắm nhau qua cốc rượu
Chứ không phải nhìn nhau
Qua những mũi súng bẩn thỉu!

Дай всему человечеству, бог,
Друг на друга смотреть через винные жерла
Чем позорно глазеть
Через мушку прицела!

Перевёл с вьетнамского Амарсана Улзытуев

Người đẹp
Lò Ngân Sủn

Ai viết tên em bằng ánh sáng
Ai vẽ hình em bằng ánh trăng
(Dân ca Dáy)

Người đẹp trông như tuyết
chạm vào thấy nóng
Người đẹp trông như lửa
sờ vào thấy mát
Người không khát - nhìn người đẹp cũng khát
Người không đói - nhìn người đẹp cũng đói
Người muốn chết - nhìn người đẹp lại không muốn chết nữa

Ơ! Người đẹp là ước mơ
Treo trước mắt mọi người!

Красавица
Ло Нган Шун

Красавица… Она подобна снегу,
Дотронешься — он кажется горячим.
Красавица огню подобна – холод
Пронзает, лишь ее коснешься.
Ты пить не хочешь? Посмотри –
И жажду ты испытаешь, как пустыни
странник.
И голод сытого измучит, если
Красавицу увидит он случайно…
И тот, кто хочет умереть до срока,
Вновь к жизни пробужден, ее увидев.

О! Это лишь мечта о красоте,
Парящей вечно в небесах пред нами.

Перевела с вьетнамского А. Никулина

Tin thì tin không tin thì thôi
Nguyễn Trọng Tạo

bốn lăm bậc thời gian dốc ngược
tôi đã vượt qua
em cách một sợi tơ
tôi đã không qua được

tin thì tin không tin thì thôi

tôi đã tới hang động yến sào tôi đã thèm ăn yến
vậy mà chưa được nếm bao giờ
hàng quốc cấm
nghe nói từ xưa làm vua sướng lắm
mà đôi khi tôi cũng sợ làm vua

tin thì tin không tin thì thôi

có anh hề đã nói với tôi
- đời thằng hề buồn lắm anh ơi
và tôi đã khóc

tin thì tin không tin thì thôi

nhưng tôi người cầm bút, than ôi
không thể không tin gì mà viết.

tin thì tin không tin thì thôi!

1991


Веришь, так верь,
а не веришь, не надо

Нгуен Чонг Тао

Сорок пять лет я шагаю, любя.
Нас разделяет лишь ниточка взгляда.
Но не могу я дойти до тебя
Веришь, так верь, а не веришь, не надо.

Я добирался к гнезду саланганов 1*
Но никогда их не пробовал гнезд.
То ль королем становиться мне рано,
То ль побоялся я бога и звезд.
Веришь, так верь, а не веришь, не надо.

С клоуном я повстречался когда-то.
Он рассказал, как живет весельчак.
Плакал навзрыд от его клоунады
Я, хотя плакать совсем не мастак.
Веришь, так верь, а не веришь, не надо.

Если поэтом родился, так значит,
Верю я в то, что в душе берегу.
Так мое сердце смеется и плачет,
А по-другому я жить не могу.
Веришь, так верь, а не веришь, не надо.

Перевела с вьетнамского Надежды Мирошниченко.

Đồng dao cho người lớn
Nguyễn Trọng Tạo

có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
có con người sống mà như qua đời

có câu trả lời biến thành câu hỏi
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới

có cha có mẹ có trẻ mồ côi
có ông trăng tròn nào phải mâm xôi

có cả đất trời mà không nhà ở
có vui nho nhỏ có buồn mênh mông

mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió

có thương có nhớ có khóc có cười
có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi.

1992

ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN
Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
Có con người sống mà như qua đời
Có câu trả lời biến thành câu hỏi
Có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới
Có cha có mẹ có trẻ mồ côi
Có ông trăng tròn nào phải mâm xôi
Có cả đất trời mà không nhà ở
Có vui nho nhỏ có buồn mênh mông
Mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
Mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió
Có thương có nhớ có khóc có cười
Có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi
1992
Nguyễn Trọng Tạo

ПРИБАУТКИ ДЛЯ ВЗРОСЛЫХ
Есть погибший лес, поныне во мне живущий
Есть живые люди, но каждый, как смерти ждущий.
Есть вопрос, который обернулся потом ответом
Есть те, кто изменил, но думал, что свадебный пир все это.
Есть отец и мать, но сын сиротой родился
Есть луна в небесах, но это не чашка риса.
Есть земля и небо, но всё-таки нету дома
Есть ничтожная радость, есть тоска, и она огромна.
И в реке ещё лодка, и трава зелёного цвета
Жизнь ещё пьянит, а душа наполнена ветром.
Есть твоя любовь, есть слезы, и смех, и память
Есть мгновение - и тысячелетье уже не с нами.
1992

Нгуен Чонг Тао
(1947-2019)
Перевела с вьетнамского Анна Попова

Nỗi niềm với Anna
Bùi Sim Sim

Dẫu phải gửi mình cho con tầu lao vút khỏi sân ga
Tôi vẫn muốn làm An-na-ka-rê-ni-na sống hết mình vì tình yêu nồng cháy
Cũng giống như Anna
tôi luôn luôn yêu cầu và luôn luôn đòi hỏi
Tôi tha thiết yêu Người và muốn Người cũng tha thiết yêu tôi
Hỡi nàng Anna hiền dịu của tôi ơi!
Giá có phép tiên nào thức gọi nàng sống dậy
Để tôi cùng nàng đi tìm một tình yêu nồng cháy
Dẫu có đắng cay hơn và đau khổ cũng nhiều hơn

Không thể ngồi yên chấp nhận những chán buồn
Tôi phải đi, phải tìm-một tình yêu say mê cuồng nhiệt
Có thể một mai, người tôi yêu sẽ trở thành tẻ nhạt
Nhưng tôi vẫn tìm hoài yêu mãi cái tôi yêu.

Đâu có tình yêu đơn giản một chiều
Trong vị ngọt chứa bao điều cay đắng
Lường sao hết -tình cảm con người kỳ lạ lắm
Hôm nay yêu mai có thể xa rồi !

Dẫu không một lần mãn nguyện với tình yêu
Tôi vẫn muốn làm Anna -suốt cuộc đời tìm kiếm
Niềm hạnh phúc nhỏ nhoi, một tình yêu trọn vẹn
Chút xíu vậy thôi, nhưng nói đúng hơn với nghĩa
Trái tim mình!

ЧУВСТВО К АННЕ
Буй Сим Сим

Анна Каренина,
Может быть, стоила поезда
Эта пришедшая с неба на землю любовь?
Анна Каренина,
Я не жалею, что стоило так же
влюбиться, как ты,
Чтобы мучиться вновь.

Как я хочу, чтоб живой ты осталась,
Верю я, мучиться надо и в омут лететь
с головой.
О! Моя нежная Анна!
С тобой я не первая вместе пошла бы,
Останься ты в мире живой,
Чтоб отыскать ту негаснущую, неминучую,
Самую страшную в мире, огня горячей.
Пусть она будет безумною или горючею —
эта любовь,
Даже солнечных жарче лучей.
Только не скучной и только не будничной,
Господи!

Не охладей, мой любимый!
И пусть я сгорю!
Анна искала такой же,
Чтобы напиться, чтоб досыта.
Хоть на минуту.
И я о такой же молю!
Пусть умирает случайное чувство
без искорки.
Я не устану, как Анна, искать тебя вновь,
Вечное чувство, какое вам кажется прихотью,
Мне же – судьбой
И зовут это чувство: любовь!

Перевела с вьетнамского Надежда Мирошниченко.

Dự cảm mùa thu

Chu Thị Thơm

bỗng một ngày bất chợt sang thu. heo may gửi sắc vàng theo hương cúc. lòng ngẩn ngơ với hồn hoa ký ức. hạ giấu lửa đi, hơi ấm không về...

có một ngày thơ ướt chẳng buồn che. ta tha thẩn giữa một vùng nắng quái. trái hạnh phúc xanh nỡ nào dám hái. để lại sau mình những hoa trái không tên.

lại giật mình trước linh cảm mùa thu, em vội vàng hong vần thơ đẫm ướt. phía sau lưng, con đường trầy trượt, lảo đảo anh về hẹn giấc mơ xưa.

để bây giờ em đến với hẹn xưa. anh đứng đợi, chân bầm lên năm tháng. nặng trĩu trên vai, hành trang dĩ vãng. kỷ niệm xưa, thu đã rắc hoa vàng.

rồi một ngày bất chợt thu sang...

ПРЕДЧУВСТВИЕ ОСЕНИ
Тю Тхи Тхом

Внезапно день превращается в осень.
Норд-ост посыпает ржавчиной
аромат хризантем.
Душа погружается в оцепененелую
ностальгию.
Природа хоронит свой пыл, тепло
не вернётся...

Промокли стихи, и нет сил их укрыть
от дождя...
Тогда забрели мы с тобой в сердцевину жары,
Но плод незрелого счастья сорвать
не посмели.
Не знали мы имени ранним цветам.

И вот уж приметы иного сезона –
Рубцы неугомонных и грязных тайфунов.
А прежний наш дом уже занят другими:
Доносится звук колыбельной сквозь
приоткрытую дверь.

Я вздрагиваю от осязания осени и тороплюсь
На помощь своим промокшим стихам.
За спиной петляет дорога –
ты возвратишься по ней,
Чтобы сбылся мой давний сон.
Я, наконец, проникаю в забытое обещанье:
Годы стоишь ты и ждёшь там,
не чувствуя ног.
Обременяет былое поникшие плечи…
Память разбрасывает оранжевые цветы,

Когда день превращается в осень…

Перевела с вьетнамского Анна Ретеюм.

Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ

Mai Văn Phấn


Pha xong ấm trà

Quay ra

Ông khách không còn ở đó

Gọi điện thoại

Người nhà bảo ông mất đã bảy năm

Nhầm lẫn



Nhà mình

Mọi sự đảo lộn

Không nhớ bức chân dung hạ xuống bao giờ

Đâu rồi chiếc đồng hồ chạy bằng dây cót?

Bộ ấm chén giả cổ ai cho?





Ghé sang hàng xóm

Thử hỏi mấy loại thực phẩm

Loại tăng giá

Loại còn giữ giá



Trong nhà

Trà vẫn nóng

Đẩy chén nước về phía ông khách đã ngồi



Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng trước mặt
Chốc lại cúi gập.

Сохраняя спокойствие, провожаю гостя в переулок

Наполнил чаю в пиалу
И сел к столу
А гость уже из дома вон
Я набираю телефон
А мне в ответ: его уж нет
Семь лет покинул этот свет
Забыт и след



В моём дому переполох

Во всём подвох

Портрет со стенки кто-то снял

Часы пружинные убрал

И кто вдруг старый наш сервиз

Сменил, устроив нам сюрприз?



Я позвонил к соседям в дверь

Что стало с ценами теперь?

Одни взросли с теченьем лет

Другие – нет



В моём дому не слышен плач

И чай мой в чайнике горяч

Бери мой друг, пей по глотку



… Но пар взметнётся к потолку

Тебя напомнив – строен, прям…

И вновь слетит к ногам.

Перевёл с вьетнамского
Николай ПЕРЕЯСЛОВ.

(Построчный перевод на русский язык - Хиен Нгуен Тхи Ким)

Ответить

Вернуться в «Литература - вьетнамская и про Вьетнам»

Поделиться: